Thursday, September 24, 2020

Hiểu Về Nền Tảng Tài Chính Của Doanh Nghiệp

Sở hữu cổ phiếu cũng đồng nghĩa với việc sở hữu một phần của công ty và cùng nhau chia sẻ lợi...
More

    Bài viết mới nhất

    Những cặp tiền tệ tốt nhất trong Forex để giao dịch

    Kể tên một thị trường không bao giờ đóng cửa trong tuần làm việc, có khối lượng giao dịch lớn nhất thế...

    Sàn chứng khoán ảo: Công cụ hữu ích cho người mới bắt đầu

    Có lẽ lý do lớn nhất giữ chân chúng ta lại khỏi quyết định tham giao vào thị trường chứng khoán có...

    Tất cả những gì bạn nên biết về hệ thống đánh giá tín dụng cá nhân

    Hãy tìm hiểu những thông tin gì được thể hiện trong bản báo cáo tín dụng cá nhân, điểm số tín dụng...

    5 Quan Niệm Sai Lầm về Tiền Bạc mà Bạn Không Cần Làm Theo

    Quản lý tiền bạc của bản thân đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy như đứng giữa ngã năm đường vậy, phân vân nên...

    Mọi thứ bạn cần biết trước khi đầu tư trái phiếu

    - Advertisement -
    - Advertisement -

    Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ (Debt Securities). Người vay nợ phát hành trái phiếu để huy động tiền từ các nhà đầu tư sẵn sàng cho họ vay tiền trong một khoảng thời gian nhất định.

    Khi bạn mua một trái phiếu, bạn đang cho nhà phát hành vay, có thể là chính phủ, chính quyền địa phương hoặc công ty. Đổi lại, nhà phát hành hứa sẽ trả cho bạn một mức lãi suất xác định trong suốt thời gian của trái phiếu và trả nợ gốc, còn được gọi là mệnh giá hoặc mệnh giá của trái phiếu, khi “đáo hạn” hoặc đến hạn sau một khoảng thời gian nhất định.

    1. Trái phiếu là gì?

    Trái phiếu là một hợp đồng thỏa thuận giữa nhà phát hành trái phiếu và trái chủ (người sở hữu trái phiếu). Hợp đồng này thể hiện nghĩa vụ nợ của bên phát hành trái phiếu với người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền đầu tư cụ thể (mệnh giá của trái phiếu) trong một thời gian được xác định rõ cùng với mức lãi suất quy định.

    1.1 Hợp đồng trái phiếu bao gồm những thông tin gì?

    Một hợp đồng trái phiếu hay gọi tắt là trái phiếu sẽ thể hiện ba thông tin chính đó là: Mệnh giá trái phiếu (par value/face value/principal value), lợi tức trái phiếu (coupon rate) và ngày đáo hạn (maturity date). Các thông tin này sẽ giúp cho các nhà đầu tư xác định được dòng tiền từ đầu tư trái phiếu thông qua các mốc thời gian cụ thể.

    Mệnh giá trái phiếu (Par Value) là số tiền mà nhà phát hành trái phiếu sẽ trả cho người sở hữu trái phiếu khi mà trái phiếu đến ngày đáo hạn (ngày đến hạn trả gốc).

    trái phiếu là gì
    Credit to: Vneconomy

    Lợi tức của trái phiếu (Coupon Rate) là lãi suất mà nhà phát hành cam kết sẽ trả cho các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu mà họ phát hành.

    Thuật ngữ Coupon được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới bởi vì tính lịch sử của trái phiếu. Trước đây trái phiếu sẽ được in kèm với “coupon” đính kèm. Mỗi một “coupon” sẽ thể hiện một ngày cụ thể mà tại thời điểm đó lãi sẽ được trả cùng với số tiền lãi mà nhà đầu tư sẽ được nhận (Coupon Payment).

    Ngày đáo hạn (Maturity Date). Trái phiếu được phát hành với nhiều kỳ hạn khác nhau, ngắn nhất có thể là 1 ngày và dài nhất có thể là 100 năm hoặc hơn thế nữa. Tuy nhiên thông thường các nhà đầu tư sẽ chỉ gặp trái phiếu với kỳ hạn tối đa là 30 năm. Hợp đồng trái phiếu sẽ kết thúc vào ngày đáo hạn này, giả định rằng tất cả các khoản trả lãi đều được thực hiện đầy đủ, và nhà đầu tư sẽ nhận lại được số tiền gốc ban đầu (mệnh giá trái phiếu) tại ngày trái phiếu đó đáo hạn.

    1.2 Phân loại trái phiếu

    Về lý thuyết chung, chúng ta có thể phân loại trái phiếu dựa trên chủ thể phát hành, loại hình thị trường mà trái phiếu đó nhắm đến, và theo tiêu chí về lãi suất.

    Tiêu chí về chủ thể phát hành. Trái phiếu được phát hành bởi các công ty được gọi là trái phiếu doanh nghiệp (Corporate Bonds). Trái phiếu được phát hành bởi Chính phủ thì được gọi là trái phiếu chính phủ (Government Bonds) hay công trái hoặc công khố trái. Các cơ quan chính quyền ở các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương cũng có thể phát hành trái phiếu.

    Theo tiêu chí thị trường phát hành. Trong trường hợp phát hành trái phiếu tại thị trường sơ cấp (Primary Market) với điều kiện không quá 100 nhà đầu tư, các nhà đầu tư mua trái phiếu trực tiếp từ nhà phát hành. Các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu sau đợt chào bán từ thị trường sơ cấp có thể bán lại cho các nhà đầu tư khác tại thị trường thứ cấp (Secondary Market). Khi các nhà đầu tư mua lại trái phiếu từ thị trường thứ cấp, họ có quyền nhận trái phiếu với cam kết nhận được các khoản thanh toán lãi còn lại (Coupon Payment) cho đến khi đáo hạn và tiền gốc (mệnh giá trái phiếu) tại ngày đáo hạn.

    Theo tiêu chí lãi suất. Trái phiếu thường được phân loại thành trái phiếu với lãi suất cố định (Fix-rate Bonds), với lãi suất thả nổi (Floating-rate Bonds), và trái phiếu zero-coupon (Zero-coupon Bonds).

    1.2.1 Trái phiếu với lãi suất cố định (Fixed-rate Bonds)

    Trái phiếu với lãi suất cố định (Fixed-rate Bonds) là loại hình trái phiếu phổ biến nhất trên thị trường được phát hành bởi chính phủ và các doanh nghiệp. Trái phiếu với lãi suất cố định là loại trái phiếu có kỳ hạn và cung cấp lãi suất và mệnh giá trái phiếu không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó.

    Trái phiếu với lãi suất cố định (Fixed-rate Bonds) cung cấp dòng tiền cố định theo thời gian trong suốt kỳ hạn của nó và nhà đầu tư nhận lại được vốn đầu tư ban đầu theo mệnh giá trái phiếu tại ngày đáo hạn.

    trái phiếu với lãi suất cố định (fixed-rate bonds)

    1.2.2 Trái phiếu với lãi suất thả nổi (floating-rate bonds)

    Trái phiếu với lãi suất thả nổi (Floating-rate Bonds) có đầy đủ các đặc điểm giống như trái phiếu với lãi suất cố định (Fixed-rate Bonds). Tuy nhiên, điểm khác biết lớn nhất là nằm ở lãi suất; lãi suất của trái phiếu với lãi suất thả nổi (Floating-rate Bonds) sẽ thay đổi theo thời gian. Lãi suất của loại trại phiếu này sẽ được tính dựa trên lãi suất tham chiếu (Reference Rate).

    Tại Việt Nam, lãi suất tham chiếu của trái phiếu là lãi suất trung bình cộng của các mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân trả lãi sau kỳ hạn 12 (mười hai) tháng hoặc tương đương bằng Việt Nam Đồng do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (áp dụng tại Chi Nhánh Sở Giáo Dịch 1); Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (áp dụng tại Sở Giao Dịch); Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (áp dụng tại Chi Nhánh Thành Phố Hà Nội) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (áp dụng tại Sở Giao Dịch) công bố vào chính xác hoặc vào khoảng 11:00 sáng (theo giờ Việt Nam) tại Ngày xác định lãi suất của kỳ tính lãi đó cho trái phiếu.

    Công thức để tính lãi suất thả nổi này được dựa vào lãi suất tham chiếu và mức độ rủi ro (hoặc khả năng thanh toán nợ/uy tín tín dụng) của nhà phát hành. Lãi suất thả nổi sẽ bằng tổng của lãi suất tham chiếu và một con số phần trăm nhất định được cố định suốt kỳ hạn của trái phiếu hay còn được gọi là spread.

    Lãi suất thả nổi = Lãi suất tham chiếu + Spread (X%)

    trái phiếu với lãi suất thả nổi (floating-rate bonds)

    1.2.3 Trái phiếu zero-coupon (zero-coupon bonds)

    Cũng giống như trái phiếu với lãi suất thả nổi và trái phiếu với lãi suất cố định, trái phiếu không lãi suất hay còn gọi là zero-coupon bonds cũng có kỳ hạn cụ thể. Tuy nhiên, trái phiếu zero-coupon không cung cấp dòng tiền cố định từ lãi suất cho người nắm giữ trái phiếu. Nhà đầu tư chỉ có thể nhận lại được tiền gốc bằng với mệnh giá trái phiếu tại ngày mà trái phiếu zero-coupon đáo hạn.

    Trái phiếu zero-coupon (Zero-coupon Bonds) được phát hành với mức giá chiết khấu so với mệnh giá in trên trái phiếu – điều này có nghĩa là tại mức giá thấp hơn mệnh giá in trên trái phiếu. Số tiền chênh lệch giữa mệnh giá và giá thực bán của trái phiếu đó tại ngày đáo hạn chính là lợi nhuận mà nhà đầu tư sẽ nhận được nếu giữ trái phiếu đó đến ngày đáo hạn.

    trái phiếu zero-coupon (zero-coupon bonds)

    2. Phương pháp định giá trái phiếu

    Phương pháp định giá trái phiếu là khá đơn giản khi so sánh với các phương pháp dùng để định giá cổ phiếu bởi trái phiếu thường có kỳ hạn cố định và với dòng tiền cố định có thể dự đoán trước được.

    Giá trị của trái phiếu thường được tính toán theo phương pháp dòng tiền chiết khấu (Discounted Cash Flow hay DCF). Phương pháp dòng tiền chiết khấu DCF dự đoán giá trị của trái phiếu như là giá trị hiện tại (Present Value hay PV) của mọi dòng tiền mà nhà đầu tư kỳ vọng sẽ nhận được trong tương lai.

    Dòng tiền tư trái phiếu sẽ là khoản lãi mà nhà đầu tư nhận được tại các kỳ trả lãi được quy định trong hợp đồng trái phiếu và số tiền đầu tư ban đầu tính theo mệnh giá sẽ nhận được tại ngày đáo hạn.

    Phương pháp định giá trái phiếu này được xây dựng dựa trên các phân tích về nguyên lý cơ bản của đầu tư và đặc điểm của tổ chức phát hành. Phân tích bao gồm việc giả định khả năng nhận được lãi đúng hạn và thiết lập tỷ lệ chiết khấu phù hợp.

    Khi công thức được thành lập, con số giá trị hiện tại của dòng tiền sẽ được dùng để so sánh với số tiền mà nhà đầu tư bỏ ra ban đầu để định giá xem liệu trái phiếu đó được định giá thấp hơn, cao hơn hay tương đương với giá trị thực của nó.

    2.1 Tỷ suất thu lợi hiện hành (current yield) là gì?

    Tỷ suất thu lợi hiện hành của trái phiếu được tính bằng cách lấy khoản lãi hàng năm chia cho giá thị trường hiện tại của trái phiếu. Con số này được tính dựa trên công thức khá đơn giản và thường có thể được công bố bởi nhà phát hành.

    Tỷ suất thu lợi hiện hành (Current Yield) giúp cho người sở hữu trái phiếu dự tính được khoản lợi nhuận bình quân hàng năm từ lãi suất, không tính đến các lo ngại về sự ảnh hưởng của lợi tức thu được do sự thay đổi về giá trị của trái phiếu theo thời gian.

    Tỷ suất thu lợi hiện hành không nên bị nhầm lẫn với lợi tức trái phiếu được dùng để tính toán giá trị hiện tại của trái phiếu.

    2.2 Định giá trái phiếu với lãi suất cố định (fixed-rate bonds) và trái phiếu zero-coupon (zero-coupon bonds)

    Với trái phiếu với lãi suất cố định (Fixed-income Bonds) và trái phiếu zero-coupon (Zero-coupon Bonds), kỳ hạn, ngày trả lãi và lãi suất cũng như khoản đầu tư ban đầu nhận được vào ngày đáo hạn đã được xác định trước. Do đó, giá trị của hai loại trái phiếu này có thể được tính theo công thức sau:

    phương pháp định giá trái phiếu

    Trong đó:

    Vo: giá trị hiện tại của trái phiếu (cần tính)

    CFt: dòng tiền nhận được từ trái phiếu tại thời gian t

    r: lãi suất của trái phiếu

    n: số kỳ (quãng thời gian) của trái phiếu cho đến khi đáo hạn

    định giá trái phiếu

    Vậy chúng ta rút ra được gì từ ví dụ này

    • Nếu lãi suất của trái phiếu bằng với lãi suất yêu cầu (từ việc phân tích nhận định rủi ro của trái phiếu đó) là bằng nhau thì giá trị của trái phiếu chính bằng mệnh giá của nó
    • Nếu lãi suất của trái phiếu là thấp hơn lãi suất yêu cầu, thì giá trị của trái phiếu là thấp hơn mệnh giá của nó. Do đó, trái phiếu nên được bán ở mức giá thấp hơn mệnh giá.
    • Nếu lãi suất của trái phiếu là cao hơn lãi suất yêu cầu, thì giá trị của trái phiếu đó là cao hơn mệnh giá của nó. Do đó, trái phiếu nên được bán ở mức cao hơn mệnh giá.

    Phương pháp này là rất hữu ích cho các nhà đầu tư mà giao dịch mua bán trái phiếu trên thị trường thứ cấp (giao dịch giữa các nhà đầu tư với nhau).

    3. Rủi ro khi đầu tư trái phiếu

    Đầu tư vào trái phiếu thường được xem là ít rủi ro hơn so với đầu tư vào cổ phiếu, tuy nhiên nhà đầu tư trái phiếu vẫn phải đối mặt với một vài rủi ro khi đầu tư trái phiếu. Những rủi ro này bao gồm rủi ro tín dụng (Credit Risk), rủi ro lãi suất (Interest Risk), rủi ro lạm phát (Inflation Risk), rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk), rủi ro tái đầu tư (Reinvestment Risk) và rủi ro thu hồi (Call Risk).

    Thông qua việc đánh giá những rủi ro này mà nó sẽ ảnh hưởng đến việc đưa ra con số lãi suất yêu cầu cũng như giá phải trả cho trái phiếu đó. Lãi suất yêu cầu này có thể hiểu là lợi suất đáo hạn (Yield to Maturity hay YTM) mà nhà đầu tư yêu cầu đạt được. Trái phiếu với rủi ro cao thường đi kèm với lợi suất đáo hạn cao, phản ánh mức lãi suất kỳ vọng cao hơn.

    3.1 Rủi ro tín dụng (credit risk)

    Rủi ro tín dụng (Credit risk) hay còn được gọi là rủi ro vỡ nợ (Default Risk), là rủi ro thua lỗ nếu như người vay tiền, hay là tổ chức phát hành trái phiếu, không có khả năng thực hiện được cam kết trả lãi và gốc đúng hạn.

    Mặc dù hợp đồng trái phiếu là một giấy tờ pháp lý thể hiện nghĩa vụ thanh toán của tổ chức phát hành cho người sở hữu trái phiếu; tuy nhiên tổ chức phát hành có thể phải trải qua giai đoạn khó khăn về tài chính do hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém. Hậu quả là họ không đảm bảo được khả năng có thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán này đúng hạn.

    Trong trường hợp này, người nắm giữ trái phiếu có thể bị thua lỗ đáng kể trên số tiền đầu tư ban đầu của mình.

    Cần lưu ý rằng rủi ro tín dụng (Credit Risk) có thể ảnh hưởng đến người nắm giữ cổ phiếu ngay cả khi tổ chức phát hành đó không thực sự tuyên bố phá sản.

    Ví dụ, nếu như thị trường dự đoán rằng một số tổ chức phát hành trái phiếu có thể không đảm bảo được khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán của họ trong tương lai bởi vì thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc từ các yếu tố kinh tế vĩ mô, khả năng vỡ nợ trong tương lai là rất cao và do đó dẫn đến giá thị trường của trái phiếu đó sẽ giảm rất mạnh.

    Hệ quả là, những nhà đầu tư đang nắm giữ trái phiếu đó có thể phải chấp nhận thua lỗ nếu như họ muốn bán trái phiếu đó trên thị trường thứ cấp.

    3.2 Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk)

    Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk) là rủi ro mà khi đó lãi suất trên thị trường có sự thay đổi. Rủi ro lãi suất thường được ám chỉ đến việc giá trị của trái phiếu giảm xuống do lãi suất trên thị trường (ví dụ như lãi suất tiền gửi tiết kiệm) tăng lên. Loại rủi ro này thường tác động mạnh nhất đến trái phiếu với lãi suất cố định (Fixed-rate Bonds) và trái phiếu zero-coupon (Zero-coupon Bonds). Mối quan hệ giữa giá và lãi suất của là mối quan hệ ngược chiều. Giá tăng khi lãi suất giảm, và ngược lại.

    Giá của trái phiếu với lãi suất cố định (Fixed-rate Bonds) và trái phiếu zero-coupon (Zero-coupon Bonds) có thể giảm đáng kể trong môi trường mà lãi suất ngân hàng có nhiều khả năng sẽ tăng lên. Tuy nhiên đối với trái phiếu với lãi suất thả nổi (Floating-rate Bonds), lãi suất được tính theo lãi suất tham chiếu tại thời điểm xác định lãi cho từng thời kì trả lãi, chính vì vậy rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk) với loại trái phiếu này là thấp hơn so với 2 loại trái phiếu còn lại.

    Tuy nhiên, trái phiếu với lãi suất thả nổi lại gặp rủi ro lớn hơn trong môi trường mà lãi suất ngân hàng có nhiều khả năng sẽ giảm. Khi đó nhà đầu tư sẽ nhận được số lãi thấp hơn bởi vì lãi suất tham chiếu sẽ bị điều chỉnh lại thấp đi.

    3.3 Rủi ro lạm phát (Inflation Risk)

    Gần như tất cả các chứng khoán nợ (Debt Securities) đều phải đối mặt với rủi ro lạm phát (Inflation Risk) bởi vì đa số các khoản trả lãi và gốc đều được tính toán trước và cố định – do đó, con số này là không thay đổi theo lạm phát.

    Không may, lạm phát là rủi ro không thể dự đoán chính xác trước được. Rủi ro lạm phát khiến cho giá của hàng hóa và dịch vụ trở nên đắt đỏ hơn theo thời gian, dẫn đến sức mua (Purchasing Power) của dòng tiền từ trái phiếu bị giảm đi theo thời gian.

    Trái phiếu với lãi suất thả nổi (Floating-rate Bonds) có thể được coi là sản phẩm đầu tư bảo vệ nhà đầu tư khỏi rủi ro lạm phát bởi vì lãi suất tham chiếu được điều chỉnh định kỳ. Tuy nhiên, nó không đem lại sự bảo vệ cho sức mua của dòng tiền cuối cùng hay số tiền đầu tư ban đầu nhà đầu tư nhận lại tại ngày trái phiếu đáo hạn.

    3.4 Các rủi ro khác

    Một số rủi ro khác nhà đầu tư cần nên cân nhắc khi đầu tư vào trái phiếu đó là rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk), rủi ro tái đầu tư (Reinvestment risk), và rủi ro thu hồi (call risk).

    Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk) là rủi ro liên quan đến việc nhà đầu tư không thể tìm được thị trường để bán trái phiếu trước ngày đáo hạn mà không phải chấp nhận bán nó với giá triết khấu thấp hơn giá thị trường. Trái phiếu mà không được giao dịch thường xuyên hay không nhận được sự quan tâm từ thị trường thường gặp phải rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk) cao.

    Rủi ro tái đầu tư (Reinvestment Risk) là rủi ro liên quan đến việc trong một thời kì mà lãi suất đang trên đà sụt giảm, tiền lãi nhận được từ trái phiếu trong suốt thời kỳ này và có thể tiền đầu tư ban đầu nhà đầu tư nhận lại do tổ chức phát hành quyết định đáo hạn sớm trái phiếu có thể phải tái đầu tư với mức lãi suất thấp hơn lãi suất ban đầu.

    Rủi ro thu hồi (Call Risk) hay còn được gọi là rủi ro đáo hạn sớm trái phiếu, ám chỉ đến rủi ro mà tổ chức phát hành mua lại (thu hồi hay đáo hạn sớm) trái phiếu đã phát hành trước ngày đáo hạn. Nếu lãi suất thị trường giảm mạnh, tổ chức phát hành có thể thực hiện việc thu hồi này, do đó nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu buộc phải thực hiện tái đầu tư lại từ đầu với trái phiếu cung cấp mức lãi suất thấp hơn. Những trái phiếu có điều khoản có thể thu hồi trước ngày đáo hạn sẽ khiến cho nhà đầu tư phải đối mặt với rủi ro thu hồi (Call Risk) này.

    4. Lời Kết

    Trái phiếu là một sản phẩm đầu tư được đánh giá là có rủi ro thấp hơn tương đối so với đầu tư vào cổ phiếu. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là nhà đầu tư sẽ không phải đối mặt với bất kỳ rủi ro nào mà nó có thể khiến họ gặp phải thua lỗ.

    Hy vọng sau khi đọc xong bài viết tổng hợp về các kiến thức cơ bản của trái phiếu từ Jay Advisory, 80% những nhà đầu tư mới có thể hiểu và nắm được các kiến thức cũng như phương pháp để có thể đưa ra được các quyết định đầu tư phù hợp nhất với mình.

    - Advertisement -

    Latest Posts

    Những cặp tiền tệ tốt nhất trong Forex để giao dịch

    Kể tên một thị trường không bao giờ đóng cửa trong tuần làm việc, có khối lượng giao dịch lớn nhất thế...

    Sàn chứng khoán ảo: Công cụ hữu ích cho người mới bắt đầu

    Có lẽ lý do lớn nhất giữ chân chúng ta lại khỏi quyết định tham giao vào thị trường chứng khoán có...

    Tất cả những gì bạn nên biết về hệ thống đánh giá tín dụng cá nhân

    Hãy tìm hiểu những thông tin gì được thể hiện trong bản báo cáo tín dụng cá nhân, điểm số tín dụng...

    5 Quan Niệm Sai Lầm về Tiền Bạc mà Bạn Không Cần Làm Theo

    Quản lý tiền bạc của bản thân đôi khi sẽ khiến bạn cảm thấy như đứng giữa ngã năm đường vậy, phân vân nên...

    Stay in touch

    To be updated with all the latest news, offers and special announcements.